Đoàn TN ĐHĐN | Đại học Đà Nẵng | Trường Đại học Sư phạm | Liên hệ

Đoàn trường Đại học Sư phạm thăm gia đình chính sách

Đăng lúc: Thứ tư - 24/05/2017 21:55 - Người đăng bài viết: Phan Liễn
Đoàn trường Đại học Sư phạm thăm gia đình chính sách

Đoàn trường Đại học Sư phạm thăm gia đình chính sách

Đà Nẵng, ngày 19 tháng 5 năm 2017, một chiều mưa, đội trường ĐH Sư Phạm cùng nhau đến thăm một “Địa chỉ đỏ” trên khu vực thành phố theo kế hoạch của Ban tổ chức hành trình Trò chơi lớn ĐH Đà Nẵng 2017 “Theo bước chân những người anh hùng” với tinh thần tìm hiểu, lắng nghe, chia sẻ, bày tỏ tấm lòng yêu thương và quý trọng đối với những anh hùng có công với đất nước.
     Đà Nẵng, ngày 19 tháng 5 năm 2017, một chiều mưa, đội trường ĐH Sư Phạm cùng nhau đến thăm một “Địa chỉ đỏ” trên khu vực thành phố theo kế hoạch của Ban tổ chức hành trình Trò chơi lớn ĐH Đà Nẵng 2017 “Theo bước chân những người anh hùng” với tinh thần tìm hiểu, lắng nghe, chia sẻ, bày tỏ tấm lòng yêu thương và quý trọng đối với những anh hùng có công với đất nước. “Địa chỉ đỏ” mà đội Sư Phạm cùng nhau đến tìm hiểu là nhà một người anh hùng cách mạng, Bác Võ Ninh Bình, người ở Điện Bàn, nay sinh sống ở An Khê (địa chỉ cụ thể anh Liễn ghi giúp em với), là cựu tù cứu quốc trong kháng chiến chống Mỹ. Hiện nay Bác là Chủ tịch hội tù yêu nước của phường An Khê. 14h chiều, các thành viên có mặt tại nhà Bác, ngôi nhà giản dị nằm sâu trong ngõ nhỏ với rất nhiều những bằng khen. Ấn tượng đầu tiên khi gặp Bác là sự gần gũi, thân thuộc như người thân trong gia đình, Bác ân cần mời vào nhà và trò chuyện rất thân mật. 
Sau phút đầu chào hỏi, giới thiệu và làm quen, Bác ân cần chia sẻ kỉ niệm thời kháng chiến của mình với chúng tôi.
     Bác tham gia kháng chiến khi tuổi đời con rất trẻ. Trong cuộc nổi dậy chống chính quyền ở Tam Kỳ, Quảng Nam tết Mậu Thân 1968, dưới sức mạnh hỏa lực của địch mặc dù quân ta có nhiều chuẩn bị nhưng Bác và nhiều anh em tham gia vẫn bị bắt, nhiều tiểu đoàn gần như bị mất phiên hiệu (tiểu đoàn 72). Khi bị bắt, Bác chỉ mới 17 – 18 tuổi.
     Khi bị bắt, quân địch chuyển Bác cùng nhiều anh em qua nhiều trại giam, trại giam Chu Lai, đến Đà Nẵng, Biên Hòa và cuối cùng là trại giam Phú Quốc, bởi Bác và các anh em luôn luôn đấu tranh chống lại quân thù, đòi quyền dân sinh, bảo vệ danh dự người cách mạng.
     Bác kể về trại giam Phú Quốc, với quy mô lớn gồm 15 khu, các khu nằm tách biệt nhau, tổng số tù binh lên đến 45000 người, rất nhiều những hình thức đánh đập hỏi cung, đàn áp các cuộc đấu tranh rất tàn nhẫn. Đối với những anh lính cách mạng còn trẻ tuổi như Bác lúc bấy giờ, chịu những đòn tra khảo của địch mà không hé một lời, cung cấp thông tin giả, đảm bảo bí mật quân sự,… là điều hết sức khó khăn, nhưng tất cả đều vượt qua, thà chịu đòn, không khai báo làm lợi cho địch, đánh mất nhân phẩm của một người cách mạng, một người yêu nước.
     Bác còn kể với chúng tôi về những cuộc đấu tranh của Bác và các anh em khi còn trong trại giam. Để chống lại chế độ hà khắc của trại giam địch, mọi người cùng nhau liên kết đòi quyền nhân sinh, khi một khu lên tiếng đấu tranh thì các khu khác, dù nằm cách biệt cũng cùng nhau ủng hộ, liên kết cùng chống đối. Địch đối xử với tù nhân không khoảng đãi, cơm ăn không đủ no, quần áo không đủ mặc, còn phải làm những công việc trái với danh dự người lính cộng sản: giặc quần áo cho lính Mỹ, làm các công trình để giam giữ, đánh đập quân ta, chăm sóc gia đình lính Mỹ,.... Mỗi cuộc đấu tranh nổi lên đều bị đàn áp bởi lựu đàn cay, vũ khí,… nhưng mọi người vẫn kiên quyết trụ lại đến khi giành được sự chấp thuận mới thôi. Bác tâm sự, sau mỗi trận đàn áp bằng lựu đạn cay, nói không ra tiếng, mắt không thể mở, bị sưng húp,…
     Khi được chúng tôi hỏi về kỉ niệm mà Bác nhớ nhất khi ở trong trại giam, Bác suy nghĩ và kể về một kỉ niệm tuy đau thương nhưng rất ý nghĩa. Đó là lần Bác chống lại mệnh lệnh đi làm chuồng cột của địch, mục đích của việc này là để nhốt quân ta vào trong đó, Bác thấy rằng việc làm này quá trái đạo đức, Bác không thể làm nơi để trói nhốt anh em đồng chí của mình, chính vì thế Bác kiên quyết không thi hành, trong khi 6 người đi cùng Bác thì chấp thuận làm theo. Sau sự việc chống đối đó, Bác bị chúng đánh đập 3 ngày liên tiếp, ngày 3 buổi, sáng – trưa – chiều. Sự việc lan ra trong các khu, mọi người đã đấu tranh để đưa Bác ra ngoài. Cũng sau sự việc ấy, Bác được kết nạp Đoàn viên, khi kể về câu chuyện này, Bác vẫn luôn cảm thấy tự hào, Bác luôn ghi nhớ ngày 18/12/1970 là ngày Bác được kết nạp một cách nằm lòng. Đạo đức của người cách mạng được chứng minh rõ ràng, thực tế nhất trong những hoàn cảnh như vậy.
      Bác còn kể một câu chuyện khiến chúng tôi hết sức hồi hộp, phải chăm chú lắng nghe thật kĩ. Câu chuyện về lần Bác cùng các anh em bí mật đào hầm trốn trại. Đó là một công việc hết sức gian nan, đòi hỏi phải đảm bảo bí mật tuyệt đối, nếu không sẽ khiến nhiều người phải bỏ mạng. Mọi người đào hầm bằng cà – men được trại giam phát cho để ăn cơm, số đất được đào lên phải đổ vào bồn vệ sinh để phi tang dấu vết, miệng hầm dùng tro trong nhà bếp để ngụy trang. Căn hầm làm xong, quân ta trốn ra bên ngoài được 26 người thì bị phát hiện. Hiện nay ở Phú Quốc dấu vết của căn hầm vẫn còn, nó như là một minh chứng lịch sử sống động do tinh thần cũng như ý chí của người lính cộng sản.
     Qua những câu chuyện mà Bác tâm sự, chúng tôi không chỉ nhìn thấy trong đó hình ảnh một người lính, mà cả một tập thể luôn luôn đoàn kết cùng nhau đấu tranh. Bác khoác tay người ngồi bên cạnh Bác lúc ấy để nói với chúng tôi về việc các anh em trong tù, ngoài những lúc bị xích, thì luôn khoác tay nhau, liên kết với nhau, tạo động lực cho nhau cùng chiến đấu, không bao giờ có người đi riêng lẻ, để chống sự chia rẻ lực lượng của địch.
     Đến năm 1973 Bác và những người lính bị giam mới được trao trả theo Hiệp định Paris. Kể cả lúc này anh em vẫn thống nhất với nhau, nếu địch giải đi theo tập thể thì mới đi theo, còn bắt từng cá nhân giải đi thì nhất quyết không đi. Khi được ra tù, Bác được cho ra Bắc để đi học nhưng Bác vẫn quyết định ở lại địa phương tham gia chiến đấu cho đến ngày giải phóng. Tinh thần và nhiệt huyết của người lính trẻ vẫn luôn bừng bừng trong Bác sau nhiều năm bị giam lỏng, không được góp sức mình cho sự nghiệp giữ nước. Trại giam Phú Quốc đã cướp đi 5000 người lính, một sự thật hết sức đau thương.
      Kể về những chuyện đã qua nhưng trong ánh mắt, giọng nói trầm ấm của Bác vẫn toát lên cảm xúc chân thành, mạnh mẽ, tất cả như vẫn còn đó, như mới chỉ hôm qua mà thôi. Sau khi ra khỏi trại giam, chiến tranh kết thúc, Bác mang trên mình nhiều căn bệnh, di chứng do chiến tranh mang lại, nhưng Bác vẫn tiếp tục hoạt động, tiếp tục cống hiến cho quê hương, đất nước.
Cuối buổi, Bác có lời động viên tới lớp trẻ chúng tôi, rất tích cực tìm hiểu lịch sử. Bác luôn coi lớp trẻ là tương lai của đất nước, hi vọng thế hệ trẻ với nhiệt huyết và tài năng của mình, có thể giúp đất nước nhiều hơn những gì thế hệ các Bác đã làm.
     Chúng tôi chia tay nhau sau một giờ trò chuyện. Đội Sư Phạm có gửi tặng Bác một món quà nho nhỏ làm kỉ niệm, giúp đỡ Bác trong cuộc sống hiện tại. Đến khi ra về Bác vẫn ân cần bắt tay từng người. Chúng tôi cũng rất lưu luyến, rất muốn nghe thêm nhiều câu chuyện từ Bác, gửi lời cảm ơn tới những câu chuyện chân thành mà Bác kể, bắt tay và ôm Bác, thể hiện sự quý mến của mình.
     Chúng tôi cảm ơn Bác, cũng cảm ơn hành trình, Ban tổ chức đã giúp chúng tôi có cơ hội được đi, được nói chuyện, được biết những góc khuất mà chính những người trong cuộc tâm sự, cái mà trước đây chúng tôi chưa được tìm hiểu trên thực tế, chỉ qua báo đài, mạng xã hội,…
Buổi trò chuyện kết thúc trong không khí vui vẻ, đầm ấm, mỗi thành viên đều giữ lấy cho riêng mình những tình cảm tốt đẹp đối với Bác, những người anh hùng cách mạng. Đó là một câu chuyện cách mạng, một người anh hùng cách mạng được Sư Phạm chia sẻ đến mọi người. 




Tác giả bài viết: Hà Huyền
Nguồn tin: ĐTN
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Những trái tim tình nguyện

Đoàn thanh niên

Trường Sa - Hoàng Sa

THỰC HIỆN CHỈ THỊ 03/CT-TW

Xem bản: Desktop | Mobile